Seminar on the improvement of laws, policies and state management of intellectual property in Vietnam


On October 27, 1977, with the permission of the Ministry of Science and Technology, the National Office of Intellectual Property of Vietnam (NOIP) in cooperation with the World Intellectual Property Organization (WIPO) held a seminar on “Improving laws, policies and state management of intellectual property”

The objective of the seminar is to propose directions, objectives and solutions to improve the policies, legislation and state management of IP (Intellectual Property); and to develop national IP strategies. On this basis, the seminar encouraged and recorded comments from stakeholders and international experts to perfect the IP system in general and develops IP strategies in line with the state general objective, be the driving force for socio-economic development in the coming time.

At the beginning of the seminar, Mr. Nguyen Van Bay, Head of Legislation and Policy Department of the NOIP, stated a report on the current status of IP policies system and the practical implementation thereof. He emphasized that the seminar will focus on the analysis and evaluation as well as the solutions to the protection of rights through administrative measures. In addition, the role of state policies in balancing the interests of IP rights holders and society, especially in the protection of public health, is also the subject of his speech.

At present, the system of legal documents related to IP is quite rich with 1 Law, 9 Decrees, 20 Circulars guiding the implementation and 34 other related legal documents. Vietnam has also joined 8 international treaties on protection standards, 3 treaties on global registration, and 4 treaties on classification. As such, Vietnam has a relatively adequate legal basis for registration of IP rights and step by step protection of IP rights, as well as the expansion of Vietnam’s international cooperation in the field of IP. However, there is a lack of guideline documents on new subjects of IP rights (genetic resources, traditional knowledge, and folklore). The IP Laws remain unclear, conflicting and difficult to implement.

According to Ha Thi Nguyet Thu, a specialist from the NOIP, the number of applications was 104,275 received during the period from 2006 to 2016, of which 2016 were doubled in 2006, an average annual increase of 10-15%. However, the amount of applications filed by Vietnamese enterprises is still low compared to applications from foreigner enterprises and the applications filed in invention field of the Vietnamese only accounted for 9.5% of total. She noted that the current problems in establishing industrial property rights are long processing times, low quality and unpublished data. The main reason is in spite of the increasing the number of applications. the resources and human resources are limited still.

Regarding the enforcement of copyright law and related rights, the representatives of the Copyright Office have presented in details. In general, this enforcement system is operating quite effectively through a combination of inspection, market management, customs, police, border guards and people’s courts at all levels. In addition, there is effective participation of supporting organizations (Vietnam Center for Protection of Music Copyright-VCPMC, Recording Industry Association of Vietnam- RIAV …).

In the field of Plant breeders’ rights, in particular, since Viet Nam has become a full member of the UPOV Convention, plant variety protection can be granted for varieties in, and therefore the number of applications has increased sharply (199 applications in early August 2017). The reason for this increase is attributed to the fact that plant breeders’ holders trust the system of plant variety protection in Vietnam. Unlike patent and utility solutions applications, the number of applications originated from foreign countries accounts for about 10% of total applications. In order to amendments to the IP law, a representative from the Department of Crop Production commented that a number of amendments should be made to the current Law. For example, the regulations stating that farmers are allowed to keep plant breeders would be difficult to protect the rights of authors. In addition, he proposed the protection of processed products from harvested materials should be allowed.

The implementation of the law on IP rights protection through the administrative measure has been discussed in details in the seminar. At present, the administrative measure is considered as an effective tool available for IP law enforcement. According to the statistics in the period 2012-2015, 98.37% of cases were handled by administrative measures, whereas other measures (judicial, border control) accounted for only 1.63%. The application of the administrative measures has many advantages, such as many competent agencies can handle, saving time and costs, quickly. However, they are not effective in the deterrence and prevention of recidivism. The infringed right-holders are not compensated for damages and this is inconsistent with the nature of the intellectual property relationship. Therefore, a solution proposed by an Inspector of the Ministry of Science and Technology inspectorate is to shift to judicial handling (civil and criminal) in order to strengthen the role of judicial authorities in the handling of IP violation and dispute. In addition, the coordination between administrative agencies and the judiciary should be strengthened in order to enhance the effectiveness of the handling of violation.

Regarding the relationship between the protection of IP rights and public health policy, existing issues relating to pharmaceuticals in the process of international integration were presented at the seminar. The question is how to balance the interests of IP rights holders and of community. A number of proposals are to amend the Law concerning drug registration requirements and inventions, for example, the provisions on the protection of test data; the provisions on the association between the invention and the registration of the drug.

Some solutions to improve the IP Law, policy and legislation in the period 2018-2030 were presented by a representative of the NOIP, focusing on the following topics:

Legal measures:

  • Fulfill the legal system on IP,
  • Fulfill key mechanisms to use IP,
  • Develop policies to balance the interests of IP rights holders and of community,
  • Improve the policies of protecting IPR by civil actions.

Solutions to improve the efficiency of establishing rights:

  • Promote Information Technology,
  • Fulfill the process of application examination for registration of industrial property; develop a specific quality management strategy,
  • Improve the capacity of examiners, skills and legal services to deal with disputes, appeal,
  • Study on the socialization of some stages in the process of application examination,
  • Increase capacity of technical testing of plant varieties,
  • Reform the existing systems in IP management.
  • Strengthen capacity and efficiency in IP management,
  • Strengthen the physical infrastructure for the protection of rights.

In addition, solutions for developing the professional support systems and raising awareness, human resource are also mentioned.

The seminar took place within a day; nevertheless it raised concerns about the system of legal documents as well as the enforcement of IP rights. In general, the presented opinions assumed that Vietnam already has established a relatively adequate legal framework to establish and enforce IP rights. However, the establishment of rights and enforcement of rights has encountered many shortcomings which need to overcome. The fulfillment of the legal system will facilitate the enforcement of intellectual property rights, which is considered as a target in the coming time, is aimed to have an effective protection of IP rights, to create the trust for IP rights holders, to promote the IP activities in Vietnam in the future.

Hội thảo về hoàn thiện pháp luật, chính sách và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

Vào ngày 27/10/2017 vừa qua, đươc phép của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) tổ chức hội thảo “Hoàn thiện pháp luật, chính sách và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ”.

Mục tiêu của hội thảo là nhằm đề xuất định hướng, mục tiêu và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ (SHTT) và hướng tới xây dựng đề án chiến lược về SHTT quốc gia. Trên cơ sở đó, hội thảo khuyến khích và ghi nhận các ý kiến thảo luận từ các bên liên quan và các chuyên gia quốc tế nhằm hoàn thiện hệ thống SHTT nói chung và xây dựng chiến lược SHTT phù hợp với mục tiêu chung của đất nước, làm động lực phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới.

Để mở đầu buổi hội thảo, ông Nguyễn Văn Bảy, Trưởng phòng Pháp chế và Chính sách Cục SHTT đã phát biểu báo cáo dẫn đề trình bày về hiện trạng hệ thống chính sách về SHTT và thực tiễn thi hành các chính sách này. Ông nhấn mạnh, buổi hội thảo sẽ tập trung vào việc phân tích và đánh giá cũng như đưa ra các giải pháp về hoạt động bảo vệ quyền thông qua biện pháp hành chính hiện nay. Ngoài ra, vai trò của các chính sách nhà nước trong việc tạo cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu quyền SHTT và xã hội, đặc biệt là trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng là nội dung được ông nói tới.

Hiện nay, hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến SHTT khá phong phú với 1 bộ Luật, 9 Nghị định, 20 Thông tư hướng dẫn thi hành và 34 văn bản pháp luật khác có liên quan. Việt Nam cũng đã tham gia 8 Điều ước quốc tế về tiêu chuẩn bảo hộ, 3 Điều ước quốc tế về đăng ký toàn cầu, 4 Điều ước quốc tế về phân loại. Như vậy, Việt Nam đã có tương đối đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc đăng ký xác lập quyền SHTT và từng bước bảo vệ quyền SHTT, cũng như mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực SHTT. Tuy vậy, trên thực tế còn thiếu các văn bản hướng dẫn liên quan đến các quyền SHTT mới phát sinh (nguồn gen, tri thức truyền thống, văn hóa dân gian). Các quy định pháp luật về SHTT chưa rõ ràng, có mâu thuẫn và gây khó khăn cho quá trình thi hành.

Theo bà Hà Thị Nguyệt Thu, chuyên viên Cục SHTT, từ năm 2006 – 2016 lượng đơn Cục nhận được là 104.275 đơn, trong đó năm 2016 lượng đơn nộp về gấp đôi năm 2006, tăng trung bình mỗi năm 10 – 15%. Tuy vậy lượng đơn của doanh nghiệp Việt Nam đăng ký SHTT còn thấp so với lượng đơn nộp từ doanh nghiệp nước ngoài và đơn đăng ký ở lĩnh vực sáng chế của người Việt chỉ chiếm 9,5% tổng lượng đơn nộp. Bà nhận định, những vấn đề tồn tại trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp hiện nay là thời gian xử lý đơn kéo dài, chất lượng chưa cao và các dữ liệu chưa được công khai hóa. Nguyên nhân chủ yếu do lượng đơn tăng nhưng nguồn lực (resources) và nhân lực còn hạn chế.

Liên quan đến thi thành pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan, đại diện cục Bản quyền tác giả đã có bài tham luận trình bày chi tiết. Nhìn chung, hệ thống thực thi này hiện đang hoạt động khá hiệu quả thông qua sự kết hợp giữa thanh tra, quản lý thị trường, hải quan, công an, bộ đội biên phòng và tòa án nhân dân các cấp. Ngoaì ra hệ thống thực thi này còn có sự tham gia hiệu quả của các tổ chức bổ trợ (trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam VCPMC, Hiệp hội ghi âm Việt Nam RIAV..).

Riêng đối với việc bảo vệ Giống cây trồng, sau khi Việt Nam trở thành thành viên hoàn toàn của công ước UPOV, Việt Nam đã áp dụng bảo hộ tất cả các giống cây trồng, và nhờ đó, số lượng đơn đăng ký tăng mạnh (199 đơn tính đến đầu tháng 8 năm 2017). Nguyên nhân của sự tăng này được cho là do các chủ sở hữu giống cây trồng tin tưởng vào hệ thống bảo hộ giống cây trồng của Việt Nam. Khác với lượng đơn đăng ký Sáng chế và Giải pháp hữu ích, số lượng đơn đăng ký có nguồn gốc nước ngoài chiếm khoảng 10% tổng số đơn Việt Nam. Đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ giống cây trồng, đại diện Cục Trồng trọt, đã đưa ra một số đề xuất sửa đổi Luật, ví dụ, ông cho rằng các quy định nông dân được phép giữ giống sẽ khó đảm bảo quyền lợi của tác giả. Ngoài ra, ông còn đề xuất mở rộng đối tượng bảo hộ tới sản phẩm chế biến từ vật liệu thu hoạch của giống được bảo hộ.

Tình hình thực thi pháp luật về bảo vệ quyền SHTT bằng biện pháp hành chính đã được thảo luận rất chi tiết trong hội thảo. Hiện nay, biện pháp hành chính được coi là một công cụ hữu hiệu trong việc thực thi quyền SHTT. Theo thông kê trong giai đoạn 2012-2015, đã xử lý 98,37 % các vụ việc được xử lý hành chính, trong khi các biện pháp khác (tư pháp, kiểm soát biên giới) chỉ chiếm 1.63 %. Biện pháp hành chính có nhiều ưu điểm như nhiều cơ quan có thẩm quyền xử lý, tiết kiệm thời gian và chi phí, nhanh chóng. Tuy nhiên, tính răn đe và ngăn ngừa tái phạm là không cao. Chủ thể quyền SHTT không được bồi thường thiệt hại và không phù hợp với bản chất của quan hệ sợ hữu trí tuệ. Chính vì vậy, một giải pháp được cơ quan thanh tra của Bộ KHCN đưa ra là cần dịch chuyển sang xử lý tư pháp (dân sự và hình sự) nhằm tăng cường vai trò của các cơ quan tư pháp trong xử lý vi phạm, tranh chấp SHTT. Ngoài ra, cần đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác xử lý vi phạm.

Đối với việc bảo hộ quyền SHTT với chính sách bảo vệ sức khỏe cộng đồng, các vấn đề liên quan đến dược phẩm trong quá trình hội nhập quốc tế đã được trình bày tại hội thảo. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để cân bằng giữa lợi ích của chủ thể SHTT và lợi ích của cộng đồng. Một số đề xuất được nêu ra nhằm kiến nghị sửa đổi Luật liên quan đến đăng ký thuốc và sáng chế, ví dụ, quy định về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm, quy định về liên kết giữa sáng chế và đăng ký thuốc.

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, chính sách về SHTT giai đoạn 2018-2030 đã được đại diện Cục SHTT trình bày tại hội thảo, tập trung vào các nội dung sau:

Giải pháp về pháp luật:

  • Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về SHTT,
  • Hoàn thiện cơ chế chính sách sử dụng SHTT,
  • Xây dựng cơ chế chính sách cân bằng lợi ích giữa chủ thể SHTT và lợi ích của cộng đồng,
  • Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền SHTT bằng biện pháp dân sự.

Giải pháp nâng cao hiệu quả xác lập quyền:

  • Đẩy mạnh Công nghệ thông tin,
  • Hoàn thiện quy trình xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, xây dựng cơ chế quản lý chất lượng đặc thù,
  • Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thẩm định, nghiệp vụ thẩm định và pháp chế để giải quyết, tranh đối, tranh chấp và khiếu nại,
  • Nghiên cứu xã hội hóa một số công đoạn trong quá trình xử lý đơn,
  • Nâng cao năng lực khảo nghiệm kỹ thuật đối với giống cây trồng,
  • Cải tổ bộ máy cơ quan bảo vệ quyền SHTT,
  • Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của cơ quan bảo vệ quyền SHTT,
  • Tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động bảo vệ quyền.

Ngoài ra, các giải pháp phát triển hệ thống hỗ trợ, bổ trợ chuyên nghiệp và nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực cũng được đề cập.

Hội thảo diễn ra trong vòng 1 ngày nhưng đã nêu ra được các bất cập về hệ thống các văn bản pháp luật cũng như thực thi quyền SHTT. Nhìn chung, các ý kiến đều cho rằng, Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý tương đối đầy đủ nhằm xác lập quyền và thực thi quyền SHTT. Tuy nhiên, việc xác lập quyền và thực thi quyền còn gặp nhiều bất cập và cần khắc phục. Việc hoàn thiện hệ thống pháp lý sẽ tạo thuận lợi cho công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ là mục tiêu trong thời gian tới, nhằm hướng tới bảo vệ hiệu quả quyền SHTT, tạo niềm tin cho các chủ thể SHTT, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động SHTT ở Việt Nam, trong tương lai.

Thông tin Tuyển dụng tháng 10/2017: Chuyên Viên Tư Vấn ngành Luật Sở hữu trí tuệ ($350 – $1000)


Mô Tả Công Việc

Tư vấn các công việc liên quan xác lập quyền sở hữu trí tuệ cho khách hàng Việt Nam và nước ngoài;

Hỗ trợ khách hàng xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;

Theo dõi, quản lý hồ sơ của khách hàng;

Dịch các tài liệu liên quan và các công việc khác thuộc phòng chuyên môn.

Yêu Cầu Công Việc

– Nam – Nữ, tốt nghiệp Đại học chính quy trở lên chuyên ngành Luật;

– Sử dụng thành thạo tiếng Anh, đặc biệt là kỹ năng đọc và viết;

– Giao tiếp được bằng tiếng Anh;

– Sử dụng thành thạo máy tính và các trang mạng xã hội;

– Ưu tiên những người đã làm việc trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

– Có sức khỏe tốt.

Quyền lợi
– Được đào tạo bài bản

– Chế độ đãi ngộ tốt, BHXH, BHYT, BHTN, lương tháng 13, tiền thưởng nghỉ lễ, nghỉ hè…

Ngôn Ngữ Trình Bày Hồ Sơ

Tiếng Anh

Cấp Bậc

Nhân viên

Ngành Nghề

Pháp lý


Nơi Làm Việc

Hà Nội

Mức Lương

– Thu nhập hấp dẫn ($350 – $1000)

– Được đào tạo bài bản

– Chế độ đãi ngộ tốt, BHXH, BHYT, BHTN, lương tháng 13, tiền thưởng nghỉ lễ, nghỉ hè…

Cách thức ứng tuyển:

Các ứng viên quan tâm đến vị trí tuyển dụng xin vui lòng gửi bản CV (bao gồm thông tin cá nhân và mô tả quá trình học tập, công tác của mình) vào địa chỉ email



Thông tin Tuyển dụng tháng 10/2017: Chuyên Viên Marketing ($350 -$1000)

Mô Tả Công Việc

– Lên kế hoạch giai đoạn và triển khai các hoạt động theo kế hoạch chung.
– Đề xuất, quản lý, triển khai, theo dõi và nghiệm thu kế hoạch nội dung trên các kênh truyền thông (báo chí, website, Fanpage…)
– Tổ chức thực hiện tài liệu truyền thông, tài liệu bán hàng;
-Báo cáo tiến độ, chất lượng các công việc PR – MKT theo dự án hàng tháng;

Yêu cầu công việc

– Đại học chuyên ngành báo chí, truyền thông, marketing;

– Sử dụng và giao tiếp tiếng Anh thành thạo;
– Kinh nghiệm làm việc 1-3 năm trong lĩnh vực truyền thông;

– Có kĩ năng xây dựng kế hoạch marketing;
– Thực hiện kế hoạch, báo cáo giải trình;

– Có khả năng làm việc độc lập hoặc theo nhóm, chủ động trong công việc.

Quyền lợi
– Được đào tạo bài bản

– Chế độ đãi ngộ tốt, BHXH, BHYT, BHTN, lương tháng 13, tiền thưởng nghỉ lễ, nghỉ hè…

Ngôn Ngữ Trình Bày Hồ Sơ

Tiếng Anh

Cấp Bậc

Nhân viên

Ngành Nghề



Internet/Online Media

Nơi Làm Việc

Hà Nội

Mức Lương

Mức lương hấp dẫn ($350 – $1000), được hưởng hoa hồng trên doanh thu.

Chế độ đãi ngộ tốt, BHXH, lương tháng 13, tiền thưởng nghỉ lễ, nghỉ hè …

Cách thức ứng tuyển:

Các ứng viên quan tâm đến vị trí tuyển dụng xin vui lòng gửi bản CV (bao gồm thông tin cá nhân và mô tả quá trình học tập, công tác của mình) vào địa chỉ email

Làm giả thuốc bảo vệ thực vật: Trước sau cũng tới vòng lao lý


Thuốc bảo vệ thực vật giả không chỉ làm ảnh hưởng đến năng suất mùa vụ và đời sống người nông dân mà còn tổn hại đến uy tín và sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp.

Việc xử lý hình sự các hành vi sản xuất thuốc BVTV giả được kỳ vọng sẽ có tác dụng răn đe mạnh mẽ trong bối cảnh vấn nạn này đang hoành hành với nhiều thủ đoạn tinh vi, phức tạp như hiện nay.

Đi tù vì sản xuất thuốc BVTV giả

Ngày 14/8/2017, Tòa án Nhân dân huyện Bình Chánh – TP Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm đối với các đối tượng trong vụ làm giả thuốc bảo vệ thực vật với số lượng lớn, phân phối đi nhiều tỉnh, thành khu vực phía Nam.

Xét xử sơ thẩm các đối tượng trong vụ làm giả thuốc bảo vệ thực vật

Trước đó, ngày 23/12/2015, đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế công an huyện Bình Chánh phối hợp với Công an xã Tân Nhựt, Phòng PC46-Công an TP Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra kho hàng địa chỉ B21/448A, ấp 2, xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh thì phát hiện các đối tượng là Nguyễn Vũ Hoài Anh, Nguyễn Văn Thanh Tú, Nguyễn Văn Hiền và Lê Văn Cương đang sản xuất hàng giả là thuốc BVTV của một số nhãn hiệu nổi tiếng.

Khám xét khẩn cấp ngôi nhà này, lực lượng chức năng tiếp tục thu giữ hàng ngàn nguyên vật liệu để sản xuất thuốc BVTV giả, hàng chục ngàn sản phẩm dạng gói, bao, hộp, chai mang nhãn hiệu của nhiều hãng sản xuất thuốc BVTV có uy tín.

Xét thấy hành vi sản xuất thuốc BVTV giả là nguy hiểm cho xã hội, hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo về tội “Sản xuất hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật” quy định tại điều 158 Bộ luật Hình sự.

Cụ thể, Nguyễn Vũ Hoài Anh phải nhận mức án 4,5 năm tù giam, Nguyễn Văn Thanh Tú và Lê Văn Cương cùng mức án 3,5 năm tù giam, Nguyễn Văn Hiền mức án 3 năm tù giam. Tất cả số hàng giả được lực lượng chức năng đem đi tiêu hủy.

Mới đây, lực lượng chức năng quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh cũng phát hiện một Công ty bao bì thực hiện làm giả nhãn bao bì thuốc BVTV của một công ty uy tín. Điều đáng ngại là do được sản xuất bởi một công ty in ấn bao bì chuyên nghiệp nên nếu không quan sát kỹ bao bì khi mua hàng, bà con nông dân rất khó có thể phân biệt được hàng thật, hàng giả và rất dễ bị đánh lừa.

Những vụ việc liên tiếp bị phát hiện cùng những thủ đoạn tinh vi của các đối tượng cho thấy vấn nạn thuốc BVTV giả đang trở nên nhức nhối hơn bao giờ hết. Thực trạng này không chỉ gây thiệt hại lớn đến lợi ích, sức khỏe và đời sống của bà con nông dân, ảnh hưởng tới thị trường mà còn là thách thức đặt ra đối với cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp chân chính, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các bên.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, các hành vi sản xuất thuốc BVTV giả có thể bị xử lý hình sự. Cụ thể, theo Điều 158, Bộ luật Hình sự 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi có thể bị phạt tù tới 15 năm tùy thuộc vào mức độ phạm tội và hậu quả gây ra.

Cơ quan quản lý cũng như các doanh nghiệp và người tiêu dùng hy vọng những biện pháp mạnh tay mà các cơ quan chức năng đang tiến hành sẽ có tác dụng răn đe, hạn chế tình trạng thuốc BVTV giả hoành hành trên thị trường.

Chủ động cứu mình trước “bão” hàng giả

Theo ông Phan Văn Tương, Giám đốc Tổ chức Croplife Việt Nam: “Để khắc phục triệt để tình trạng thuốc bảo vệ thực vật bị làm giả, làm nhái, cần điều tra tận gốc các cơ sở sản xuất, phạt nặng và xử lý hình sự các đối tượng vi phạm để có thể tạo được môi trường làm ăn lành mạnh cho các doanh nghiệp chân chính và mang lại lợi ích thiết thực cho người nông dân”.

Ngoài việc xử phạt nặng các hành vi làm giả, buôn bán và vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng, lực lượng chức năng cần đặc biệt quan tâm công tác phổ biến tuyên truyền pháp luật cho các đại lý, người dân hiểu được những hậu quả nghiêm trọng của việc sản xuất, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV giả để phòng tránh.

Trên thực tế, trước vấn nạn thuốc bảo vệ thực vật giả hoành hành như hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chủ động bảo vệ người tiêu dùng, cũng là tự “cứu” mình. Đơn cử như trường hợp của Công ty Syngenta Việt Nam. Để giúp nông dân tránh mua phải hàng giả, công ty đã thiết lập hệ thống mã vạch trên vỏ chai một số sản phẩm chủ lực. Khi mua hàng, bà con nông dân chỉ cần soạn tin nhắn kèm mã vạch gửi về tổng đài tự động, tin nhắn phản hồi về nguồn gốc của sản phẩm sẽ được gửi lại sau 3-4 giây. Ngoài ra, Syngenta còn chú trọng đầu tư sản xuất các loại bao bì, nhãn mác, đóng gói bằng những công nghệ hiện đại nhất để tránh việc bị làm giả, làm nhái.

Tổng giám đốc Công ty TNHH Syngenta Việt Nam khẳng định: “Syngenta luôn nỗ lực hết mình để đảm bảo chất lượng tốt nhất cho từng chai, gói thuốc và từng hạt giống mà chúng tôi đem đến cho bà con nông dân Việt Nam. Để giữ vững những giá trị lâu dài và bền vững cho doanh nghiệp, chúng tôi sẽ có những hành động pháp lý mạnh mẽ để bảo vệ hàng hóa của mình tránh khỏi việc bị làm giả, làm nhái. Chúng tôi luôn tâm niệm rằng ngoài sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan chức năng thì rất cần có sự đồng hành của doanh nghiệp, hệ thống đại lý và của bà con nông dân để đẩy lùi “vấn nạn” thuốc BVTV giả”.